Sổ Tay Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Tuổi Ba Mươi

Khổng Tử (551 - 479 B. C.) sinh sống trước công nguyên. Ở thời đại của ông, tuổi thọ của con người hẳn ngắn; bởi vậy, vấn đề lập thân đã được đặt ra (hơi sớm) vào tuổi ba mươi. Tam thập nhi lập. 

Ðến thời Apollinaire (1880 - 1918), tuổi thọ của nhân loại dường như cũng chưa lấy gì làm dài; do đó, nên mới hai mươi bẩy tuổi mà ông thi sĩ này đã lo lắng bồn chồn vì cuộc sống "không được như ý" của mình: 

Je vais avoir vingt - huit ans. 
Mal vecu à mon envie.
(Tôi sắp hai mươi tám mất rồi.
Mà đời thì vẫn rất lôi thôi.tnt)
Tới cuối thế kỷ hai mươi thì (ôi thôi) phần lớn nhân loại đều trở nên lè phè thấy rõ. Tiêu chuẩn "tam thập nhi lập" gần như bị lãng quên, và nỗi lo lắng "gái ba mươi tuổi đã toan về già" cũng không còn được mấy ai chia sẻ. Nói theo ông Phạm Thế Mỹ - tác giả bản nhạc "Trăng Tàn Trên Hè Phố", sáng tác vào khoảng cuối thập niên 1960 ở miền Nam Việt Nam - chúng ta sống ở "tuổi ba mươi mà ngỡ như trẻ thơ ..."

Thực phẩm dồi dào và y tế tiến bộ đã làm tăng tuổi thọ và kéo dài tuổi trẻ. Ðó thực là điều đáng qúi. Duy có điều đáng tiếc là hương vị phong phú của những năm tháng thanh xuân không phải là món quà tặng được mang chia sẻ đồng đều cho tất cả mọi người. Với một phần nhân loại, dù đang ở tuổi ba mươi, chuyện áo cơm và những quyền sống tối thiểu vẫn còn là điều xa xỉ. Xin đơn cử một vài trường hợp, về những kẻ không may mắn ấy.

Ông Lê Văn Hạnh, một công dân Việt Nam, ba mươi tuổi, sống bằng nghề vá ruột xe. Vì làm ăn ế ẩm nên ông Hạnh đã "kiếm thêm khách hàng" bằng cách lấy căm xe đạp mang cắt khúc, đập dập hai đầu và bẻ cong thành hình chữ Z, rồi đem rải trên xa lộ cho xe cán. Ngày 7 tháng 3 năm 99, ông Hạnh bị bắt quả tang khi đang rải đinh trên đoạn đuờng từ cầu Rạch Chiếc đến ngã tư RMK. Toà án nhân dân huyện Thủ Ðức đã kết án ông ta tám năm tù, về tội "phá hoạïi tài sản của nhân dân" - theo như tin đã loan của nhật báo Thời Luận, phát hành từ Los Angeles, số ra ngày 10 tháng 7 năm 99.

Mười ngày sau, tôi lại đọc phải một bài báo khác, về một trường hợp không may khác: Ông Lê Sức, một nông dân Việt Nam, góa vợ, 32 tuổi, vì mùa màng thất bát nên bỏ thôn quê lần vào thành phố. Ông không đi ăn xin hay đi bán máu để sống qua ngày, như những người Việt khác vẫn thường làm - khi lâm vào hoàn cảnh tương tự; thay vào đó, ông Sức tìm cách mưu sinh bằng cách buôn bán vặt vãnh trên đường phố. 

Ông ta bưng một cái khay nhỏ, chào mời du khách mua hàng, trước cửa một viện bảo tàng mới khai trương ở Khe Sanh - Quảng Trị. Ông bán những món hàng cũ kỹ - những thứ đã có lúc là vật dụng tùy thân quen thuộc của những chiến binh Hoa Kỳ từng tham chiến ở Việt Nam - đại loại như dao, nĩa, bật lửa, đồ cạo râu cũ, và độ hơn một chục cái thẻ bài. Giá ông ta rao bán thẻ bài là 5 Mỹ Kim 3 cái. 

And all of them are fakes. Tất cả đều là đồ dởm, theo tường thuật của ký giả Mac Donald - "Battling 'Ghoulish' Trade In Dog Tags Sale Of Counterfeit Items Offends Officials And U.S. Veterans Groups,"(San Jose Mercury News, 17 Mar. 1999:A15). Cũng theo bài báo này thì "business" của ông Lê Sức bị kết án hết sức nặng nề bởi cả hai phía: Hoa Kỳ và cộng sản Việt Nam.

Về phía Hoa Kỳ, một đại diện của tổ chức cựu chiến binh "American Legion" đã phát biểu rằng đây là một việc bẩn thỉu. Về phía Việt Nam, ông Vũ Khắc Nhu - phó giám đốc Văn Phòng Tìm Kiếm Người Mất Tích (the Vietnam Office for the Search of Missing Persons) - tuyên bố rằng Hà Nội đã nghiêm cấm việc này, và công an đã bắt nhiều người buôn bán hài cốt cũng như những vật dụng tùy thân của lính Mỹ.

Như thế, ông Lê Sức, một "nông dân thất bại" - a failed farmer, nếu ghi nguyên văn theo Anh Ngữ của Mark Mc Donald - bỗng trở thành một "doanh gia thất nghiệp". Với sự lục đục cố hữu trong quan hệ ngoại giao giữa Hà Nội và Hoa Thịnh Ðốn (trong tương lai gần), tôi còn ngại rằng - nếu có bất cứ "sự cố" nào liên quan đến thương ước Việt / Mỹ - ông ta còn có thể bị kết án là đã "làm phương hại đến bang giao Mỹ / Việt". Tội danh này, trong hoàn cảnh "tế nhị" hiện tại, dám bị coi đồng nghĩa với chuyện … "phá hoại kinh tế nhà nước"!

Nếu chỉ vì làm thủng vài cái bánh xe đạp của nhân dân mà ông Lê Văn Hạnh phải lãnh một bản án tám năm tù thì chuyện làm hỏng thương ước giữa hai quốc gia, e rằng, có thể khiến ông Lê Sức phải đi cải tạo đến … tám chục năm hay hơn nữa (không chừng).

Phen này, ông ta chắc chết - chết chắc. Tuy thế, nghĩ cho cùng, dù bị kết án bao nhiêu năm tù chăng nữa, những vấn đề pháp lý liên quan đến ông Lê Sức không nhằm nhò gì (và cũng không có gì đáng để ầm ỹ) nếu so sánh với tội danh của một nhân vật khác - một người đàn ông khác, thuộc giới trí thức, cũng ở tuổi ba muơi, ông Lê Chí Quang.

Theo biên bản của cuộc đấu tố hôm 19 tháng 10 năm 2001 tại Hà Nội (được ghi lại và phổ biến trên internet bởi ông Ðặng Kim Giang, một người láng giềng của ông Lê Chí Quang) thì ông Quang đã bị đảng ủy và công an phường, thay mặt thành phố và Trung ương, kết án bẩy tội (động trời) như sau:

- Hoạt động có tổ chức.
- Phủ nhận sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam.
- Phủ nhận chủ nghĩa xã hội ưu việt và tươi đẹp con đường mà đảng, bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn…
- Phủ nhận tính đúng đắn và sự trong sáng tuyệt đối của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Nhận tiền của đế quốc và nước ngoài để hoạt động chống đảng và nhà nước.
- Thành lập hội chống tham nhũng bất hợp pháp.
- Tổ chức phát tán tài liệu phản động của các thành phần chống đối trong và ngoài nước…".
Chuyện ông Lê Chí Quang "hoạt động có tổ chức" và có "nhận tiền của đế quốc để chống đối nhà nước" hay không thì tôi (hoàn toàn) mù tịt nhưng việc ông ấy "phủ nhận tính đúng đắn và trong sáng tuyệt đối của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh", cũng như "phủ nhận chủ nghĩa xã hội ưu việt và tươi đẹp" thì cả thế giới ai cũng biết. Chính ông Quang đã nhiều lần xác nhận như vậy:"Theo tôi được biết, tất cả những nước đi theo con đường của chủ nghĩa Mác-Lênin hoặc làm theo học thuyết Mác-Lênin đều đói nghèo, lạc hậu, mất dân chủ và đều đã sụp đổ. Chúng ta rồi cũng không thể tránh khỏi vết xe đổ đó. Những kẻ dóng dả họïc thuyết Mác-Lênin chẳng qua chỉ cốt để duy trì sự thống trị vĩnh viễn cho tiện bề vơ vét và bóc lột nhân dân" (Lê Chí Quang, "Góp Ý Sửa Ðổi Hiến Pháp," Thông Luận, tháng 10 năm 2000, tr. 07). 

Sau khi miệt thị chủ nghĩa Mác-Lênin và lãnh đạo, ông ấy còn đi xa hơn nữa bằng cách làm "sứt mẻ" tình cảm giữa "ta" và nước xã hội chủ nghĩa bầu bạn anh em khác - bởi những lời lẽ rất không ôn hòa và (hình như) hơi vô căn cứ, đại loại như:"Việt Nam trong con mắt Trung Quốc là một miếng mồi ngon có vị trí chiến lược về địa lý, chính trị, lại là miếng mồi dễ nuốt nhất vì được sự hậu thuẫn của các thế lực đen tối, bảo thủ và tay sai luồn sâu leo cao trong bộ máy nhà nước (http://www.conong.com/chiquang_1018.htm).

Tất nhiên không phải mọi thanh niên Việt Nam ở lứa tuổi 30 đều là những phần tử "bất hảo" như ba nhân vật vừa kể. Bên cạnh những kẻ chuyên môn "phá hoại tài sản của nhân dân" như ông Lê Văn Hạnh, "phá hoại bang giao Việt Mỹ" như ông Lê Sức, hay phá hoại "tình hữu nghị Việt Hoa đời đời bền vững" như ông Lê Chí Quang"… thì vẫn có những công dân gương mẫu - những người luôn luôn sống trong khuôn khổ, chỉ thích sống trong khuôn khổ vì đã quen như thế, và (có lẽ) cũng không biết gì khác thế hay hơn thế.

Xin đơn cử một nhân vật tiêu biểu cho loại người này, đó là ông Nguyễn Việt Nam. Trong bức thư ngỏ gửi cho ông Lê Chí Quang (được luân lưu trên internet, và in lại trên Nguyệt San Cánh Eùn - phát hành từ Ðức Quốc, số tháng 12 năm 2001), ông Nguyễn đã tự giới thiệu về mình và nhắn nhủ với ông Quang như sau: 

"Anh Lê Chí Quang thân mến, theo như lời giới thiệu trên báo Cánh Eùn thì anh là một cán bộ (?) trẻ, cử nhân luật, năm nay ngoài 30 tuổi. Như vậy, tôi cũng trạc tuổi anh. Một điều giống nhau nữa, tôi cũng sống ở Hà Nội. Ðiều khác là tôi không được can đảm như anh. Tôi không dám trực tiếp góp ý cho đảng (Cộng Sản Việt Nam) và nhà nước (chuyên chính vô sản). Tôi không dám ghi tên thật dưới những bài viết của mình, mặc dù đó chỉ là những bài ký và chuyện ngắn. Anh còn ghi cả địa chỉ và số điện thoại dưới mỗi bài viết của anh nữa.

Ðọc những bài viết của anh tôi thấy ý kiến anh nêu lên thẳng thắn lắm. Chỉ có điều chúng không chứa đựng một điều gì mới mẻ cả, không thể hiện một thái độ trí thức. Tất cả những điều anh góp ý cho chính quyền đương đại ở Việt Nam đều được mọi người biết cả rồi…"

"Nguyễn Việt Nam", chắc chắn, chỉ là bút hiệu hay biệt hiệu gì đó. Ông Nguyễn, như đã tự nhận, chưa bao giờ dám ghi tên thật dưới những gì mình viết - kể cả khi viết một bức thư. Và ông ta hoàn toàn không có vẻ bối rối hay xấu hổ gì ráo, khi "thể hiện thái độ trí thức" của mình, với cung cách ấy!

Trong một bức thư ngỏ khác, gửi một vị thầy học cũ (cũng được in lại trên nguyệt san Cánh Eùn, số đã dẫn), ông Nguyễn còn đặt vấn đề như sau:" Giả dụ chính quyền ở Việt Nam hiện nay sụp đổ thì có ai hay tổ chức chính trị nào xứng đáng để chèo lái đất nước tiến lên không? Chắc là không có! Ðây không phải là nghi vấn của riêng tôi mà còn là của một bộ phận đông dân chúng. Nguời dân lo sợ rằng, một chính quyền mới có khi chỉ làm cho tình hình tồi tệ và rối ren hơn."

Ông Nguyễn đúng là một người sinh trưởng "trong lòng cách mạng". Thái độ "cẩn trọng" của ông ta khiến tôi nhớ đến một hiện tượng tâm lý (rất không bình thường) gọi là "institutionalization", trong khoa tâm thần học. Có những tù nhân hay bệnh nhân xin được ở lại (hoặc tìm cách trở lại) nhà giam hay bệnh viện tâm thần chỉ vì họ quá quen với cuộc đời bị giam hãm sau bốn bức tường. Nói cách khác họ không còn khả năng hội nhập với nếp sống tự do và độc lập, như những người bình thường nữa. 

"Ngoài lòng cách mạng", nghĩa là từ hải ngoại, người Việt có một thái độ hoàn toàn khác. Ông Nguyễn Xuân Hiệp, một thành viên của Tập Hợp Dân Chủ Ða Nguyên (cũng vào lứa tuổi ba mươi) và là trưởng ban tổ chức của buổi ra mắt Dự Án Chính Trị của Tập Hợp này - vào ngày 25 tháng 11 năm 2001, tại thành phố San Jose, tiểu bang California. Khi ngỏ lời chào mừng quan khách đến tham dự, ông Nguyễn Xuân Hiệp đã tuyên bố nguyên văn và "chắc nịch như sau:"Chế độ cộng sản là chế độ độc tài cuối cùng trong lịch sử nước ta" - theo tường thuật của ký giả Lâm Văn Sang, trên tờ Việt Mercury, số ra ngày 30 - 11- 2001. 

Thái độ quyết liệt và dứt khoát của ông Lê Chí Quang và ông Nguyễn Xuân Hiệp, đối với chủ nghĩa cộng sản và chế độ hiện hành ở Việt Nam, khiến tôi hoá băn khoăn. Những kẻ đang nắm quyền bính ở nơi đây không hy vọng gì thu được thuế từ những công dân nghèo khốn như ông Lê Văn Hạnh, hay ông Lê Sức. Họ cũng không được sự đồng tình của những người thuộc thành phần ưu đãi hơn, dù ở trong hay ngoài nước -như ông Lê Chí Quang hay ông Nguyễn Xuân Hiệp. 

Thành phần duy nhất còn lại ủng hộ chế độ, như ông Nguyễn Việt Nam, lại không phải là những một kẻ … bình thường. Vì nghi ngại rằng "không có ai hoặc không có tổ chức nào xứng đáng để chèo lái đất nước tiến lên" nên ông Nguyễn mới "chịu" sống vĩnh viễn trong nghèo đói, dốt nát và áp bức cho nó … đỡ mất công - thế thôi! Lập luận của ông Nguyễn khiến tôi nhớ đến câu ngạn ngữ: "Nếu vì sợ què chân mà bạn không dám bước đi thì có khác chi chân bạn đã bị què rồi"! 

Những đồng tiền viện trợ và những kẻ bệnh hoạn (như ông Nguyễn) không có khả năng kéo dài sự sống cho bất cứ một chế độ nào. Và chuyện "người dân lo sợ rằng một chính quyền mới có khi chỉ làm cho tình hình tồi tệ và rối ren hơn …", nghĩ cho cùng, cũng không phải là sự lo sợ hoàn toàn viển vông và vô căn cớ. Xóa bỏ nghèo đói, kỳ thị, bệnh tật, sợ hãi, tham lam, dốt nát, oán thù … không phải là chuyện "tự nhiên" có thể xẩy - qua đêm - ở bất cứ nơi đâu. 

Tưởng Năng Tiến