Sổ Tay Thường Dân

TRẦN TRƯỜNG GIỮA CHỢ

Tưởng Năng Tiến

Đem con bỏ chợ - nếu hiểu theo nghĩa đen - là chuyện chẳng đặng đừng của những cảnh đời cùng quẫn, đến độ có người phải mang con bỏ ra giữa chợ, với hy vọng có kẻ hằng tâm và hằng sản thương tình mang đứa bé về nuôi. Chuyện này, có lẽ, chưa bao giờ hoặc không mấy khi xẩy ra trong đời sống thực của dân tộc Việt. Tập tục văn hóa ngăn cản con người làm những điều như vậy. Thương yêu đùm bọc, sống chết có nhau vốn là truyền thống ngàn đời của mọi gia đình Việt Nam; bởi vậy, câu thành ngữ trên thường vẫn chỉ được hiểu theo nghĩa bóng, để diễn tả thái độ sao lãng hay chối bỏ phận sự của một người đối với những người thân hay với những kẻ tùy thuộc vào trách nhiệm của họ - vậy thôi!

Sự hiện diện của chủ nghĩa cộng sản (và chủ trương bần cùng hóa của nó) - hơn nửa thế kỷ qua - đã làm cho văn hóa, tập tục và truyền thống gia đình của người dân Việt đang dần có những dấu hiệu đổi thay. Trong thư tòa soạn của tạp chí Thế Kỷ 21- số 103, phát hành tháng 11 năm 97, tại Califronia Hoa Kỳ - ông Vương Hữu Bột có ghi lại trường hợp của một thiếu phụ ở Sài Gòn đã giết hai con rồi thắt cổ tự tử. Bà còn đủ bình tĩnh viết thư để lại giải thích " vì không có cách nào kiếm sống nên chọn cái chết." Người phụ nữa này đã không đem con bỏ chợ. Lý do, rất có thể, vào lúc tuyệt vọng bà ta không tin rằng còn có người hằng tâm hằng sản trong xã hội mà mình đang sống.

Cùng ở vào hoành cảnh trên nhưng nhiều người đã phản ứng cách khác. Gần đây, báo chí ở Việt Nam hay có những bài phóng sự về đời sống của những đứa bé ăn mày. Bố mẹ chúng đã không lựa chọn cái chết để kết thúc một cảnh đời khốn cùng cho cả gia đình. Thay vào đó, họ cho con đi ăn xin để chúng tự nuôi thân, và - đôi khi - cũng góp phần nuôi luôn cho cả chính mình.

Để sinh tồn, có những người lại lựa chọn một hình thức khác nữa trước bước đường cùng. Họ bán con. Báo Tiền Phong - phát hành ngày 9 tháng 12 năm 98, tại Việt Nam - có một bài phóng sự đặc biệt về "Chợ Bán Con" . Xin trích dẫn một đoạn ngắn:

"...Trước kia gái đi khách, lỡ có dính bầu đều đi nạo, đi phá. Nay khác, đứa bé trở thành một món hàng đắt giá, cho dù phải mang món hàng nặng nề trong bụng đến chín tháng mười ngày. Gái có bầu, sắp bán hay nói đùa, cũng như chơi hụi góp vậy mà. Họ mang bầu đến tháng thứ năm hay thứ sáu nhưng vẫn đi khách. Vừa mới đẻ ra mấy ngày, giao con xong, lại đi khách tiếp. Cái chu kỳ ấy cứ tuần hoàn liên tục. Có những người ở đâ đã bán con đến 4-5 lần. Thậm chí có người bán con đến lần thứ 4, sau không có bầu được nữa bắt luôn đứa con 7 tuổi đem đi bán vì kẹt tiền. Cũng không thiếu trường hợp người bán con nhiễm HIV...

- Nếu họ có bầu mà cho đến lúc sanh vẫn không có ai mua thì sao ? - Khách hỏi.

- Không có trường hợp ấy đâu, ngày nào cũng có người hỏi. Đã gọi là chợ mà chỉ sợ không có người bán chứ người mua thì không thiếu."

Và không phải tất cả người mua đều là những ông bà ngoại quốc hiếm muộn, cần một đứa con nuôi - như ghi nhận của báo Tiền Phong. Ông Nguyễn Hữu Chung - cũng qua tạp chí Thế Kỷ 21, phát hành tháng Hai năm 99 - đề cập đến một trường hợp mua trẻ như sau :" ... những người Việt Nam định cư ở các xứ Bắc Âu đã chuyển vận bạch phiến bằng cách mua trẻ con Việt Nam, mổ bụng, dồn bạch phiến vào rồi một người đàn bà trong tổ chức ôm đứa bé trong lòng khi xe qua biên giới, bảo rằng đi du lịch nhưng đứa nhỏ bệnh nặng nên phải trở về gấp..., như vậy đã qua mặt được quan thuế, cảnh sát nhiều lần trong quá khứ."

Hy vọng đây chỉ là một trường hợp hy hữu. Thông thường hơn, ở Việt Nam, người ta mua trẻ con về và biến chúng thành phương tiện để mưu sinh. Họ làm cho những hài nhi trở thành bệnh hoạn hay phế tật, với mục đích gợi lòng thương sót của tha nhân, rồi bỏ đứa bé nằm một mình giữa chợ đông người, bên cạnh là một cái nón để ngửa, và chính họ thì ngồi gần đâu đó để canh chừng đứa bé và cái nón đựng tiền.

Vẫn theo ông Nguyễn Hữu Chung, qua bài báo vừa dẫn, thì "giết một đứ a bé con như giết một con gà, thì không phải là tội ác nữa, mà đó là một hành dộng ngoài biên giới nhân tính." Kẻ viết bài này hoàn toàn chia sẻ với sự phẫn nộ của ông Nguyễn Hữu Chung; tuy nhiên, vẫn e rằng ông đã hơi quá lời về một sự việc không có gì mới mẻ, và cũng không chỉ giới hạn ở bình diện cá nhân.

Buôn người, từ nhiều thập niên nay, ở Việt Nam đã trở thành quốc sách! Chuyện này ở trong hay "ngoài biên giới nhân tính" thì chưa được chính những người chủ trương xác nhận vì câu hỏi chỉ mới được ông Bùi Tín đặt ra cho ông Phạm Văn Đồng vào tháng trước, tháng 2 năm 99 - qua tạp chí Cánh Én, số Xuân Kỷ Mão, phát hành tại Đức Quốc. Câu hỏi này, trong bài viết " Hai Câu Hỏi Cần Trả Lời Rõ Ràng Khi Thế kỷ 20 Khép Lại", nguyên văn như sau:" Xin thủ tướng cho biết ý kiến về sự kiện thuyền nhân hồi 1975, nhất là hồi 1978, 1979...Về nguyên nhân và trách nhiệm trong những sự kiện ấy, với những hiện tượng bán bãi thu vàng và khá nhiều tầu, thuyền bị hải tặc bão tố và chìm trong đại dương...Là người đứng dầu chính phủ, một trong những người lãnh đạo cao nhất của đảng cộng sản, thủ tướng nhìn nhận ra sao trách nhiệm của mình trong cuộc di dân rộng lớn và bi thảm ấy ?"

Ông Trần Trường, người đang bị ít nhiều rắc rối tại phố Bolsa Hoa Kỳ vì những việc làm kỳ dị do sự sút kém hay hư hại trí nhớ (impaired memory) gây ra, thuộc vào diện "di dân rộng lớn và bi thảm ấy" - nếu nói theo ngôn ngữ hết sức nhã nhặn và tự chế của ông Bùi Tín. Nói cách khác, ít lịch sự nhưng chính xác hơn, ông ta bị nhà nước Việt Nam bán đi vào thời điểm này - năm 1980, năm mà ông cùng gia đình vượt biên. Tuy thế, ở giữa chợ đời Cali, khi ông Trần Trường có dấu hiệu của một người bị bệnh thác loạn tâm thần - đến độ có thể làm động lòng thương hại của tha nhân - thì ở Việt Nam, người ta đã nhân danh ông để đặt một cái nón lật ngửa trước mặt người qua kẻ lại nơi phi trường Tân Sơn Nhất. Nhà nước Hà Nội nhờ ông mà kiếm thêm được, từ mỗi du khách, năm chục Mỹ Kim.

Phóng viên tờ Tiền Phong, số dẫn thượng, kết luận bài báo "Chợ Bán Con" như sau:"Không thể tưởng tượng nổi có một cái chợ nhớp nhúa như thế tồn tại giữa lòng thành phố này. Và những kẻ nhẫn tâm bán con vừa lọt lòng mẹ!" Có nhiều chuyện nhớp nhúa hơn, và nhiều kẻ nhẫn tâm hơn như thế rất nhiều nhưng phóng viên báo Tiền Phong không biết; hoặc giả, tuy có biết nhưng không tiện nói.

Tưởng Năng Tiến