CHUYỆN CUỐI NĂM

Tạp bút Tưởng Năng Tiến

Từ nay góc bể chân trời

Nắng mưa thui thủi quê người một thân

Kiều - Nguyễn Du

Ti đọc được một mẫu tin rất ngắn, tręn nhật báo Thời Luận, phát hành từ Los Angeles, ngày 1 tháng 1 năm 1999, như sau:

Bangkok.- Hàng trăm người Thi Lan tại Phuket đă chào đn 5 ch voi vừa được hồi hương sau hơn một năm bị gửi đi lao động ở Indonesia. Những chú voi này đã đến Indonesia để gip nhn vięn kiểm lâm vây bắt những chú voi rừng trên đảo Sumatra, song kế hoạch đă phải bị bỏ dở vì thiếu tiền. Kể từ đó 5 chú voi bị cầm chân ở Sumatra và phong trào bảo vệ thú rừng ở Thái lan đã phải ra sức tranh đấu gần cả năm mới được nhŕ cầm quyền Indonesia chấp thuận cho trả về Thi Lan 5 ch voi đi lao động bất đắc dĩ nŕy.

Tôi cũng ở hoàn cảnh bất đắc dĩ phải rời khỏi quê hương. Chiều cuối năm, tình cờ đọc mấy hàng chữ trên và không dưng mà thoáng thấy trạnh lòng. Vào những ngày cận tết, nơi tôi cư ngụ hay có những sáng "giở giời mưa bụi còn hơi rét" và những chiều nắng ấm vàng hanh trên những thảm cỏ xanh. Nơi đây, mùa xuân cũng bắt đầu bằng những cành hoa đào đỏ thắm hay những cành hoa mơ hoa mận trắng tươi. Quê người đẹp quá mà sao cứ nhớ quê nhà quay quắt, mà sao cứ thương Đà Lạt sót sa, và cứ thèm quá mùi ngan ngát của lá khô cỏ dại - ngun ngún khói ở một góc vườn, vào những chiều cuối năm nào đ, đă xa lắc xa lơ trong trí nhớ.

Bước vào tuổi chớm già, tôi có khuynh hướng hay nhìn lại. Khi hiện tại bắt đầu trắc trở, và tương lai không còn gì để chờ mong thì chúng ta hay quay về dĩ vãng -thế thôi.

Nhớ thưở mới lớn, tôi thích ngồi trên một ngọn đồi cao của thành phố, gặm bánh mì, nhìn bếp nhà thiên hạ lan man tỏa khói, hình dung ra một mái ấm gia đình, và tưởng tượng mình là một "ly khách lưng trời nghe muốn khóc" giữa một buổi chiều xuân.

Trời, đi lc, cũng chiều lňng người chứ. Tưởng gì chứ làm "ly khách" thì ..dễ ợt. Chừøng vài triệu người Việt đang sống tha hương tản mt khắp năm chu, trong số đ c ti. Ti cch xa nhŕ đến nửa vňng tri đất vŕ xa đă gần nửa đời měnh. Tc by giờ đă lm đốm bạc; thỉnh thoảng vẫn nghĩ đến ngŕy về, trở lại ngồi trên ngọn đồi cao nơi thành phố cũ, và biết rằng đó là chuyện còn lâu mới thực hiện được.

Không dưng, tôi cũng nhớù đến một đoạn văn trong truyện ngắn " Tối Ba Mươi" của Thạch Lam:

" Bỗng Huệ giật mình quay lại. Liên vỗ vai nàng cười:

- Nghĩ gì mà thần người ra thế ? Phải vui vẻ lên một tí chứ! Sắp giao thừa rồi đy nŕy.

"Huệ theo Liên đi vào và gật đầu.

- Thi cng đi. chị sửa soạn xong chưa ?

"Trên chiếc bàn rửa mặt đầy vết bẩn, Liên đã đặt đĩa cam qut, ci bnh chưng vŕ thếp vàng. Mấy gói lạp sường và giò cũng để ngay bên. Các đồ cúng ngèo nàn bỗng bầy lộ ra trước mắt hai người. Huệ tìm lấy thẻ hương. Nàng quay lại hỏi Liên:

- Chị có mua gạo không ?

- C gạo đy. Nhưng đổ vŕo cái gì bây giờ ?

"Hai chị em nhìn quanh gian buồng nghĩ ngợi, Liên bỗng reo lên:

- Đổ vŕo cái cốc này. Phải đấy rất là...' Nàng im bặt dừng lại. Hình ảnh ô uế vừa đến trí nàng. Cái cốc bẩn ở tường mà cả đến những khách chơi cũng không thèm dùng đến, nàng định dùng làm bát hương cúng tổ tiên! Liên cúi mặt xuống, rồi đưa mắt lên trông Huệ; hai người thoáng nhìn nhau. Liên biết rằng những ý nghĩ ấy cũng vừa mới đến trong trí bạn.

"Huệ cất tiếng nói trước, thản nhiên như không có gì:

- Hay cắm trên cái chai này...Không! Cắm trên tường này cũng được, mày nhỉ.

"Liên không dám trả lời, sẽ gật đầu.."

( Sợi Tóc, tập truyện, trang 35-36, nxb Đời Nay, Hŕ Nội, 1942)

Vào thời điểm này, nước nhà chưa có "Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phc." Sau đ, với thời gian, cuộc đời của những c gi giang hồ mỗi lc một bớt..."hạnh phc" đi. Họ trở thŕnh những kẻ không nhà, và buộc lòng phải đưa khch đến "những gc tối" để bn dm.

Đ lŕ chuyện đời thường - ở Hŕ Nội bây giờ - theo như ghi nhận của phóng viên báo An Ninh Thủ Đô, số ra ngày 15 tháng 1 năm 99 vừa qua. Đęm ba mươi năm nay- những c Lięn cô Huệ, những nàng kiều sinh trưởng trong lòng cách mạng - sẽ cúng giao thừa ở đâu và cúng ra sao, nếu họ vẫn còn nhớ đến việc thờ cúng tổ tiên.

Thành quả của cuộc cánh mạng năm mươi năm trước (khiến nhiều người cňn hãnh diện cho mãi đến by giờ), khng phải chỉ đưa những người con gi bất hạnh đến cảnh hŕnh nghề vội vã nơi đầu đường góc phố; nó còn đẩy vô số những cô gái Việt Nam khác ra khỏi quê hương, để bước vào những cảnh đời bất trắc và tủi nhục hơn nhiều nơi xứ lạ.

Gần đy, qua hệ thống internet, ti mới được biết chương trěnh "Xin Đừng Quęn Tôi" (Forget - Me - Not). Những người chủ trương tin là "...có nhiều bằng chứng cho thấy rằng một số thiếu nữ Việt nam bị bắt cóc trước đy hiện đang sinh sống đu đ tại Thi lan, Singapore vŕ tại các vùng biên giới Mã Lai." Họ kêu gọi nếu "...có tin tức liên quan đến các cô gái bị hải tặc bắt cóc xin liên lạc với Vietnam & The World Foundation, P.O.box 4108, Hungtington Beach, CA 92605 - 4018, USA.

Những thiếu nữ này hẳn không đang làm thư ký, hay bán hàng xén hàng rong ở những nước láng giềng. Tôi e là họ bị ép buộc phải bán thân! Tôi không dám nghĩ thêm đến đęm giao thừa năm nay của họ. Chỉ mong sao, nơi xứ người họ khng đến nỗi

phải bán thân và bán cả mồ hôi

mà đói rách vẫn hành cho sớm tối

như những nàng Kiều ở Hà Nội năm nào, như lời kêu thương sót xa của thi sĩ Nguyễn chí Thiện mà ti được đọc đă lâu.

Đ lŕ thảm kịch của những cô gái Việt vào cuối thập niên 70 và đầu 80. Kể từ năm 90, sau khi Việt Nam mở cửa thě những c gi km may mắn ở xứ ti được php ly hương hợp php để lŕm dâu xứ người, và bắt đầu mở một trang sử buồn thảm mới cho dân tộc Việt. Họ theo những người chồng ngïoại quốc về những quốc gia láng giềng với hy vọng - vô cùng mỏng manh - là được làm một người vợ tầm thường, trong một cuộc sống bình thường, chỉ mong có đủ cơm ăn o mặc. Được sống một kiếp người Việt nam bình thường ( Trời ơi) đâu phải dễ !

M ơi đừng gả con xa

Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu ?

Đ lŕ những người ...còn may mắn. Ít nhất thì họ và thân nhân còn biết được nơi đi , chốn đến của měnh, và hàng năm - hy vọng - cũng c đi lần thư từ hay quà cáp. Bất hạnh hơn, như tôi đã được đọc t nhất hŕng chục bài báo trong năm vừa qua, là thân phận của những thiếu nữ bị dụ dỗ hay bị bắt cóc đưa qua những tỉnh ở biên giới Việït Hoa nơi mà họ sẽ bị mua đi bn lại hay trao đổi như những mn hŕng.

Truyện ngắn "Tối Ba Mươi" của Thạch Lam, theo như nhận xét của Vũ Ngọc Phan (Nhà Văn Hiện Đại, quyển tư, tập thượng, trang 1157, Thăng Long ti bản 1959) lŕ "...thảm hơn cả tiếng khc, đau st hơn cả những tiếng thở dŕi." Ôi, tiếng thở dài của thời nước nhà còn trong vòng nô lệ - nghe ra- hình như còn hơi ngắn.

Tưởng Năng Tiến